Ben-Hur là một câu chuyện về một người anh hùng hư cấu tên là Judah Ben-Hur, một quí tộc người Do Thái bị kết tội oan và bị xử án vì chủ mưu ám sát một kẻ thống trị người La Mã và do đó bị quân La Mã bắt làm nô lệ. Anh ta trở thành một người điều khiển xe đua ngựa thành công. Cốt truyện báo thù trở thành câu chuyện của cảm thương và tha thứ.

Ben Hur1

Người đàn ông bây giờ mới để lộ vóc dáng đáng ngưỡng mộ, tuy không cao lắm nhưng mạnh mẽ. Nới lỏng chiếc áo choàng bằng vải tơ có khăn kufiyeh trên đầu mình, anh ta vuốt lại những nếp vải có tua rua mắc cuộn cho đến khi gương mặt mình lộ ra — mặt gương mặt mạnh mẽ, đen gần như một người da đen; nhưng vầng trán thấp, rộng, mũi khoằm, góc ngoài hai con mắt hơi xếch, mái tóc dày, thẳng, cứng, có độ bóng như kim loại, và rủ xuống vai theo từng lọn, mang dáng dấp của một nguồn gốc chẳng thể nào che dấu được. Nhìn giống như những Pharaohs và những người thuộc họ Ptolemies về sau; nhìn tựa như Mizram, cha đẻ của chủng người Egypt. Anh ta mặc áo kamis, một chiếc áo bằng vải cotton có ống tay hẹp, hở mặt trước, dài xuống tận dưới hai mắt cá chân, và được thêu xuôi phía cổ và ngực, choàng lên trên là áo khoác bằng len màu nâu, mà, theo như mọi khả năng suy đoán vào thời đó, đựơc gọi là áo aba, một trang phục mặc ngoài có vạt áo dài và hai tay ngắn, bên trong là lớp dệt bằng vải pha giữa cotton và tơ, lớp viền xung quang bằng sợi màu vàng chi chít. Chân anh được bảo vệ bằng đôi dép quai, thắt bằng những dây da mềm. Chiếc khăn choàng vải trùm lấy áo kamis của anh ta tới tận hông. Điều đáng chú ý, việc anh ta ở trên sa mạc một mình, và sa mạc là nơi vãng lai của báo và su tử, và những kẻ khá hoang dại, anh ta lại chẳng mang thứ vũ khí gì, thậm chí ngay cả một cây gậy cong để chỉ đường cho lạc đà; vì thế chúng ta ít nhất có thể phỏng đoán mục đích chuyến đi của anh ta không mang tính bạo lực, và anh ta cũng chẳng dũng cảm khác thường hay dưới sự bảo hộ phi thường nào đó.

Chân tay người lữ khách đã tê dại, vì ngồi bất động trên lưng lạc đà quá lâu; thế nên anh ta xoa xoa đôi bàn tay và dậm dậm hai bàn chân của mình, rồi đi vòng quanh kẻ hầu trung thành, đôi con mắt của kẻ hầu ấy đang nhắm lại trong yên lặng hài lòng với miếng thức ăn nhai lại mà nó đã tìm được. Thường thì, trong lúc đi vòng quanh, anh ta dừng lại, rồi, lấy tay làm bóng râm cho mắt, khảo sát sa mạc tới tận cùng mà tầm nhìn có thể phóng; và luôn luôn, khi việc khảo sát đã kết thúc, vẻ mặt anh ta bị nỗi thất vọng bao phủ, không quá lắm, nhưng cũng đủ để báo cho một người quan sát sắc sảo biết rằng anh ta ở đó mong đợi bạn mình, nếu không phải là cuộc hẹn trước; đồng thời, người quan sát chắc sẽ ý thức được việc tăng thêm độ hiếu kỳ để hiểu công chuyện gì mà lại đòi hỏi trao đổi ở một nơi quá xa chốn văn minh.

Dù có thất vọng thế nào, thì nỗi nghi ngờ về niềm tin của người lữ khách vào sự xuất hiện của người bạn được mong ngóng kia chỉ có thể là chút xíu. Minh chứng cho điều này, anh ta đầu tiên bước tới cái cáng, và, từ cái giường nhỏ hay cái ghế cưỡi đối diện cái mà anh ta đặt người trên đường đến, lấy một mẩu bọt biển và một bình gốm nhỏ đựng nước, bằng thứ đó anh ta rửa mắt, mặt, và lỗ mũi cho con lạc đà; xong việc, cũng từ chỗ buộc đồ đạc đó anh ta rút ra một miếng vải tròn, sọc đỏ và trắng, một bó gậy và một cây gậy chắc nịch.

cot on back of camel
một cáng, hay giường nhỏ, hay ghế cưỡi trên lưng lạc đà trông sẽ giống thế này

Bó gậy nhỏ, sau khi được cân chỉnh, chứng tỏ là một dụng cụ linh hoạt do ít mấu, cái này lồng trong cái kia, khi buộc lại với nhau, tạo thành một cái cột trọng tâm cao hơn đầu anh ta. Khi cây gậy được cắm xuống, và những cây gậy nhỏ sắp xếp chung quanh nó, anh ta trải tấm vải lên chúng, và cảm thấy như ở nhà – một ngôi nhà nhỏ hơn rất nhiều so với nhà ở của hoàng thân và tộc trưởng, nhưng tương ứng trên tất cả mọi phương diện khác. Anh ta lại lôi ra một tấm thảm hay một tấm chùi chân hình vuông từ cái cáng đồ đó, và trải nó trên nền túp lều ở bên cùng hướng với mặt trời. Xong rồi, anh ta đi ra ngoài, và một lần nữa với hai con mắt mở to chăm chú hơn, đảo một vòng xung quanh. Ngoại trừ một con chó rừng ở đằng xa, đang chạy thục mạng ngang qua vùng đất phẳng, và một con đại bàng đang bay về phía vịnh Akaba, vùng đất hoang phía dưới, giống như bầu trời xanh trên nó, bất động.

tent on dessert
một túp lều nhỏ trên sa mạc bên cạnh một chú lạc đà tận tụy

“Anh ta quay sang con lạc đà, nói nhỏ, và bằng ngôn ngữ xa lạ với sa mạc, ” Chúng ta đang ở xa nhà, Ôi kẻ chạy đua với những ngọn gió nhanh nhất – chúng ta đang ở xa nhà, nhưng Chúa luôn cùng chúng ta. Hãy kiên nhẫn.”

Rồi anh ta lấy một vài quả đậu từ trong túi yên, và đặt chúng trong một cái túi được làm để treo dưới mũi con vật; và khi anh ta trông thấy niềm vui thích của kẻ hầu tận tụy khi đón nhận đồ ăn, anh ta quay đi và một lần nữa lướt quanh sa mạc, mờ mờ ảo ảo với ánh mặt trời lên cao

“Họ sẽ đến,” anh ta nói, vẻ bình tĩnh. Người đã dẫn ta đến đây thì người sẽ dẫn họ tới. Ta sẽ chuẩn bị sẵn sàng.”

Từ những cái túi nhỏ nằm bên trong cái cáng, và từ cái rổ đan bằng liễu treo trên cái cáng, anh ta mang ra những nguyên liệu chuẩn bị cho một bữa ăn: đĩa đựng thức ăn được đan chặt bằng những sợi cọ; rượu đựng trong những túi da kêu òng ọc; thịt cừu khô và hun khói; những trái bưởi không hạt vùng Syria; hạt chà là vùng El Shelebi, xum xuê lạ thường và được trồng ở những vườn cọ của Trung Đông; pho mai, như những ” lát sữa” của David, và bánh mì đã lên men từ tiệm bánh trong thành phố – tất cả những thứ đó anh ta mang và đặt lên trên tấm thảm dưới túp lều. Công việc chuẩn bị cuối cùng, anh ta trải ba tấm vải lụa, được những người phương Đông quí phái sử dụng để che đầu gối của các vị khách khi ngồi vào bàn ăn – một nghi thức tiếp đón trọng đại với số người tham dự buổi chiêu đãi của anh ta – con số anh ta đang chờ đợi.

Tất cả giờ đã được chuẩn bị xong. Anh ta bước ra ngoài: nhìn kìa! một vệt đen trên bề mặt của sa mạc. Anh ta đứng như thể mọc rễ dưới nền; mắt anh ta mở to; da thịt anh ta sởn lạnh, như thể một thứ gì đó siêu nhiên đã chạm vào. Vệt đen lớn dần; trở nên lớn như một bàn tay; cuối cùng thành một hình thước rõ rệt. Một thoáng sau, lồ lộ một con lạc đà một bướu đung đưa, trắng và cao, mang một chiếc ghế cưỡi, một kiểu ghế đi xa của người Hindustan. Thế rồi người Ai Cập bắt chéo tay trên ngực mình, và ngức nhìn lên bầu trời:

“Thượng Đế thật vĩ đại!” anh ta thốt lên, đôi mắt anh ta ngấn nước, tâm hồn anh ta rưng rưng.

Người lạ kia tiến đến gần – cuối cùng dừng lại. Lúc đó, ông ta, cũng dường như vừa mới tỉnh giấc. Ông nhìn ngắm con lạc đà đang quỳ gối, túp lều, và người đàn ông đang đứng cầu nguyện ở lối vào. Ông ta đặt chéo tay mình, cúi đầu, và im lặng cầu nguyện; sau đó, bước xuống từ cổ con lạc đà tới nền cát, và đi về phía người Ai Cập, trong khi người Ai Cập đi về phía ông. Họ nhìn nhau một thoáng; rồi ôm lấy nhau – nghĩa là, mỗi người đều đặt tay phải lên vai người kia, và tay trái vòng bên sườn, đặt cằm của anh ta đầu tiên lên phía ngực trái, sau đó phía ngực phải.

“Cầu anh được bình an, hỡi kẻ tôi tớ trung thành của Thượng Đế!” người mới đến nói.

“Và cầu cho anh, hỡi người anh em trung thành với đức tin! – bình an và hoan nghênh anh đã đến,” người Ai Cập trả lời, với vẻ nồng nhiệt.

Người mới đến cao và gầy, với gương mặt hốc hác, đôi mắt sâu, râu và tóc bạc trắng, và nước da giữa hai sắc màu của quế và đồng. Ông ta, cũng thế, không mang theo vũ khí. Trang phục ông mặc là kiểu của người Hindostani; trên chiếc mũ chỏm một chiếc khăn chòng được cuốn nhiều vòng, tạo thành một chiếc khăn xếp; áo choàng thân theo kiểu của người Ai Cập, ngoại trừ chiếc aba ngắn hơn để lộ chiếc quần chảy ống rộng túm ở mắt cá chân. Thay vì đi xăng đan, bàn chân ông được bọc bởi dép bệt bằng da hở nửa, mũi nhọn. Trừ đôi dép bệt, trang phục của ông từ đầu đến chân bằng vải lanh trắng. Diện mạo của người đàn ông cao ráo, oai nghiêm, mộc mạc. Visvamitra, người anh hùng khổ hạnh của sử thi Iliad phương Đông, có ở ông một đại diện hoàn hảo. Có thể ông đã được ca tụng là một đời sống được tưới tắm bằng trí tuệ của Brahma – Hiện Thân Dâng Hiến. Chỉ có trong con mắt của ông là bằng chứng làm người; khi ông ngẩng mặt mình lên từ phía ngực bên trái của người Ai Cập, chúng long lanh những giọt nước mắt.

nha hien triet gia
nhà hiền triết già, hình từ weheartit.com

“Chỉ có Thượng Đế là vĩ đại!” ông thốt lên, khi việc chào hỏi đã kết thúc.

“Và phúc đức cho ai phụng sự ngài!” người Ai Cập đáp lại, lăn tăn với cách diễn giải của mình. “Nhưng chúng ra hãy đợi”, anh ta nói thêm,”chúng ta hãy đợi; nhìn xem, người nữa đang đến đằng kia!”

Họ nhìn về hướng bắc, nơi, bẳng phẳng dễ quan sát, một con lạc đà thứ ba, có cùng màu trắng như hai con trước, đang nghiêng người tiến lại như một con tàu. Họ đợi, đứng bên cạnh nhau — đợi cho đến khi người mới đến xuất hiện, trèo xuống khỏi lưng lạc đà, và bước về phía họ.

“Cầu chúc người anh em bình an” anh ta nói, trong khi ôm hôn người Hindu.

Và người Hindu đáp lại, ” Ý nguyện của Thượng Đế sẽ được thực thi!”

Người mới đến không có vẻ gì giống bạn của mình: khuôn người ông nhỏ hơn; nước da ông trắng; một mớ tóc mỏng xoăn là vương miện hoàn hảo cho chiếc đầu nhỏ nhưng đẹp của ông; cái nhìn ấm áp trong đôi mắt màu xanh đậm minh chứng cho một tâm trí sắc sảo, và một tính cách chân thành, dũng cảm. Ông để đầu trần và không mang vũ khí. Dưới những nếp gấp của tấm vải kiểu người Tyre mà ông khoác xộc xệch lộ ra một chiếc áo được thắt bằng một sợi dây ngang hông và dài gần đến dầu gối, ngắn tay và thấp cổ; để lộ cổ, cánh tay và cẳng chân. Chân ông mang dép buộc quai. Năm mươi năm, có lẽ hơn, chúng đã đi theo ông, dường như chưa bao giờ thôi tô điểm cho vẻ nghiêm trang và kiềm chế những lời nói của chủ chúng với đắn đo suy tính. Dáng vẻ bề ngoài và sự sáng lạn của tâm hồn trước sau như một. Không cần phải kể thêm ông có dòng dõi từ đâu; nếu như bản thân ông không đến từ những lùm cây của Athens, thì tổ tiên của ông đã từng.

“Khi những cánh tay của ông rời khỏi người Ai Cập, vị khách mới tới nói bằng giọng run run, “Thánh thần mang tôi đến đây trước; vì vậy tôi tự biết mình được chọn là người phụng sự anh em. Lều đã dựng. Bánh mì đã được chuẩn bị xong. Hãy để tôi làm nghĩa vụ của mình.”

Nắm lấy tay từng người, ông dẫn họ vào trong, và cởi bỏ dép quai của họ rồi rửa chân cho họ, sau đó ông dội nước lên tay họ, và lau khô chúng bằng khăn.

Rồi, khi ông đã rửa xong tay mình, ông nói, “Chúng ta hãy chăm sóc lấy nhau, người anh em, vì việc phụng sự của chúng ta đòi hỏi thế, nào hãy ăn thôi, để chúng ta lấy sức cho nhiệm vụ còn lại trong ngày. Trong khi chúng ta ăn, chúng ta sẽ tìm hiểu về những người khác, khi nào họ tới, và gọi họ thế nào.”

Ông dẫn họ tới bàn ăn, và mời họ ngồi xuống đối diện với nhau. Cùng lúc những mái đầu của họ cúi về phía trước, tay họ đặt chéo trước ngực, và, cùng nới, lời cầu nguyện đơn giản này:

“Cha của tất cả — hỡi Thượng Đế! — những gì chúng con có ngày hôm nay là của người; hãy chấp nhận lời cảm tạ của chúng con và hãy ban phước cho chúng con, để chúng con có thể tiếp tục mang vác ý nguyện của người.”

Với những lời nói cuối cùng họ ngẩng mắt mình lên, và nhìn nhau trong kinh ngạc. Mỗi người nói bằng một ngôn ngữ mà những người kia chưa từng nghe qua; thế nhưng mỗi người hiểu trọn vẹn những gì đã được thốt ra. Tâm hồn họ rộn ràng với xúc cảm linh thiêng; vì chính điều huyền diệu đã khiến họ nhận thấy Thượng Đế Hiển Diện.

vẻ đẹp của vũ trụ

Đọc bản tiếng Anh tại đây: https://www.gutenberg.org/files/2145/2145-h/2145-h.htm#chap0102

(Visited 52 times, 1 visits today)

4 Comments

  1. Pingback: BEN-HUR bởi Lew Wallace - Quyển 1 - Chương 1 - Jimmy The Cat

  2. Pingback: BEN-HUR bởi Lew Wallace - Quyển 1 - Chương 1 - Jimmy The Cat

  3. Pingback: Ben-Hur bởi Lew Wallace - Quyển 1 - Chương 3 - Jimmy The Cat

  4. Pingback: BEN-HUR: Một truyện về đấng Christ - Quyển 1 - Chương 1 - Jimmy The Cat

Leave A Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*

code