Mạo hiểm nơi mộ cổ Ai Cập là một truyện ngắn được in trong tập Poirot điều tra của tác giả Agatha Christie, nữ văn sĩ được mệnh danh là bà hoàng truyện trinh thám.

tham tu Poirot va Hastings
thám tử Poirot và Hastings

(Tiếp theo P.2)

“Ông đang huyênh hoang khoác lác, ông Poirot. Có chắc là ông không bị buộc phải tin vào mọi lời bàn tán ngu xuẩn đấy chứ?”

“Hết sức vô lý,” Willard giận dữ lẩm bẩm.

Poirot bình thản không lay động, chớp chớp chút xíu đôi mắt màu xanh mèo của ông.

“Vậy là ông không tin điều đó, ông bác sĩ?”

“Không, thưa ngài, tôi không tin,” bác sĩ tuyến bố dứt khoát. “Tôi là người của khoa học, và tôi chỉ tin vào những gì khoa học dạy.”

“Không có khoa học hồi đó ở Ai Cập cổ đại sao?” Poirot nhẹ nhàng hỏi. Ông không đợi một lời đáp lại, và thật sự bác sĩ Ames dường như lúng túng trong giây lát.”Không, không, đừng trả lời tôi, nhưng hãy nói tôi nghe điều này. Những người đào thuê bản địa họ nghĩ gì?”

“Tôi đoán,” bác sĩ Ames nói, “rằng, nơi những người da trắng mất đầu, những người bản địa không đi quá xa nơi đó. Tôi sẽ thừa nhận rằng họ hiểu sẽ dần hiểu những gì mà ông cho là thiêng liêng – nhưng họ không có lý do gì để hiểu.”

“Tôi băn khoăn,” Poirot nói lửng lơ.

Ngài Guy ngả người về phía trước.

“Chắc chắn,” anh ta thốt lên đầy ngờ vực, “ông không thể tin–chà, nhưng điều đó thật phi lý! Ông không thể biết điều gì về Ai Cập cổ đại nếu ông tin điều đó.”

Để trả lời Poirot lôi ra một cuốn tập nhỏ từ túi của mình–một cuốn tập cổ sờn rách. Khi ông ấy chìa nó ra tôi trông thấy cái tựa, Ma thuật của người Ai Cập và người Chaldea. Rồi, quay một vòng, ông bước dài ra khỏi lều. Bác sĩ Ames nhìn tôi chăm chú.

“Ông ta nuôi ý định điên rồ gì thế?”

Cách nói ấy, quá quên thuộc trên môi Poirot, làm tôi bật cười vì nó đến từ người khác.

“Tôi không biết chính xác,” Tôi thú nhận.”Ông ấy có kế hoạch xua đuổi những linh hồn ma quái, tôi nghĩ rằng vậy.”

Tôi đi kiếm Poirot, và tìm thấy ông ấy đang nói chuyện với một người trẻ tuổi có gương mặt xương xẩu, thư ký của ông Bleibner quá cố.

“Không,” Harper nói,”Tôi đi theo đoàn khai quật mới được sáu tháng. Phải, tôi biết những vấn đề của ông Bleibner khá rõ.”

“Anh có thể thuật lại cho tôi bất cứ điều gì liên quan tới cháu trai ông ấy?”

“Anh ta xuất hiện ở đây một ngày, người ưa nhìn. Tôi chưa bao giờ gặp anh ta trước đây, nhưng một vài người khác đã từng nhìn thấy, Ames, tôi nghĩ thế, và Schneider. Ông chú không hài lòng lắm khi nhìn thấy anh ta. Họ ngay lập tức lao vào cuộc, cãi nhau kịch liệt.”Không một xu teng,”ông già quát. “Không một xu giờ và sau khi chú mày chết. Chú mày dự định chuyển tiền của chú mày để tiếp tục công việc của cả một đời. Chú mày đã nói chuyện với ông Schneider hôm nay rồi. Và cuộc cãi lộn diễn ra như vậy thêm chút nữa. Cậu Bleibner trở về Cairo ngay lập tức.”

“Lúc đó sức khỏe của ông ta tốt chứ?”

“Ông già ư?”

“Không, người cháu ấy.”

“Tôi nghĩ anh ta có nói thấy gì đó không ổn. Nhưng không thể nào là bất cứ điều gì nghiêm trọng, nếu không thì tôi đã nhớ.”

“Còn một điều nữa, ông Bleibner có để lại di chúc không?”

“Như chúng tôi được biết, thì ông ấy không.”

“Anh sẽ ở lại với đoàn khai quật chứ?”

“Không, thưa ông. Tôi sẽ về New York ngay sau khi tôi thu xếp xong công việc ở đây. Ông có thể cười nếu ông muốn, nhưng tôi sẽ không là nạn nhân kế tiếp của Men-her-Ra cóc đế đại vương chết tiệt đó đâu. Ông ta sẽ tóm tôi nếu tôi dừng lại ở đây.”

Chàng trai trẻ lau mồ hôi trên trán mình.

Poirot quay mặt đi. Nghiêng qua vai ông nói với một nụ cười khác thường:

“Hãy nhớ, ông ta có một trong những nạn nhân của mình ở New York.”

“Ôi, chết tiệt!” Harper nói lớn.

“Anh chàng đó dễ bị kích động,” Poirot trầm ngâm nói.”Anh ta dễ nổi cáu, và chắc chắn nổi cáu.”

Tôi liếc nhìn Poirot hiếu kỳ, nhưng nụ cười bí ẩn của ông nói cho tôi biết điều gì đó. Đi cùng với ngài Guy Willard và tiến sĩ Tosswill chúng tôi được dẫn vòng quanh địa điểm khai quật. Những vật tìm thấy quan trọng đã được chuyển tới Cairo, nhưng một số những đồ vật trong mộ cực kỳ thú vị. Lòng nhiệt huyết của vị nam tước trẻ thật hiển nhiên, nhưng tôi nghĩ rằng tôi nhận thấy một thoáng chút lo âu trong phong cách của anh ta như thể anh ta không tài nào thoát nổi cảm giác đe dọa đâu đây. Khi chúng tôi đi vào bên trong lều đã được sắp đặt trước cho chúng tôi, để tắm rửa trước khi ăn tối cùng đoàn, một bóng dáng người cao sạm trong áo choàng trắng đứng sang một bên để chúng tôi qua với một cử chỉ lịch thiệp và lẩm nhẩm một câu chào hỏi bằng tiếng Arabic. Poirot dừng bước.

“Anh là Hassan, người hầu của ngài John Willard quá cố?”

“Tôi đã phục vụ chủ nhân của mình ngài John, giờ tôi phục vụ con trai ông ấy.” Anh ta tiến lên một bước gần hơn chúng tôi và hạ thấp giọng.”Ông là một người thông thái, họ nói, biết phép thuật trừ tà. Hãy khuyên bảo cậu chủ rời khỏi chốn này. Có ma quỉ vẩn vơ quẩn quanh chúng ta.”

Và với một điệu bộ bất ngờ, không chờ đợi câu trả lời, anh ta lẩn đi thật nhanh.

“Ma quỉ vật vờ,” Poirot lẩm bẩm.”Đúng thế, Tôi cảm nhận được nó.”

Bữa tối của chúng tôi khó có thể gọi là một bữa ăn vui vẻ. Căn phòng do tiến sĩ Tosswill làm chủ, người đã thuyết trình một tràng dài về cổ vật của Ai Cập. đúng ngay lúc chúng tôi chuẩn bị lưu về nghỉ nghơi, thì ngài Guy nắm lấy cánh tay Poirot và trỏ. Một bóng dáng mập mờ đang chuyển động giữa những túp lều. Đó không phải là bóng người: Tôi nhận ra khác biệt bóng dáng có đầu của một con chó tôi đã nhìn thấy được chạm khắc trên những bức tường của ngôi mộ.

Máu tôi thật sự đông lại trước cảnh tượng.

“Chúa ơi!” Poirot lẩm bẩm, khí thế làm dấu thánh. “Anubis, thần đầu chó, thần của những linh hồn từ giã cõi đời.”

than anubis4
thần Anubis, đầu chó, vị thần của những linh hồn đang đi vào cõi chết

“Ai đó đang chơi xỏ chúng ta,” tiến sĩ Tossill thốt lên, giận dữ đứng lên.

“Nó đã đi vào lều của anh, anh Harper,” ngài Guy lí nhí nói, khuôn mặt anh ta tái nhợt khiếp sợ.

”Không,” Poirot nói, lắc đầu của mình, “vào lều của bác sĩ Ames.”

Bác sĩ Ames nhìn ông chăm chăm ngờ vực; rồi, nhắc lại những lời của tiến sĩ Tosswill:

“Ai đó đang chơi xỏ chúng ta. Đi thôi, chúng ta sẽ sớm bắt được hắn.”

Anh ta lao vọt ra đuổi theo bóng ma. Tôi đi theo anh ta, nhưng, chúng tôi tìm kiếm mãi, cũng chẳng thể nào tìm ra dấu vết của bất cứ linh hồn sống nào đi qua lối đó. Chúng tôi quay trở lại, chút gì đó rối bời trong tâm trí, khi thấy Poirot đang nỗ lực áp dụng những biện pháp, theo cách của ông ấy, để đảm bảo an toàn cá nhân. Ông bận rộn đi vòng quang túp lều của chúng tôi với những biểu đồ và chữ viết khác nhau mà ông đang vẽ trên cát. Tôi nhậ ra một ngôi sao năm cánh hay Pentagon đã được vẽ nhiều lần. Như thói quen của mình, Poirot đồng thời thuyết giảng ứng khẩu về phép phù thủy và ma thuật nói chung, ma thuật trắng đối chọi với ma thuật đen, với vô số những ám chỉ tới Ka và cuốn sách của người chết được chêm vào.

Nó dường như kích động sự khinh thường mãnh liệt nhất ở tiến sĩ Tosswill, người kéo tôi ra một bên, chính xác theo từng chữ khịt mũi với nỗi tức giận.

“Thật nhảm nhí, thưa ngài,” ông ta giận dữ thốt lên. “Thật nhảm nhí. Người này là một kẻ mạo danh. Ông ta không phận biệt được đâu là những mê tín thời Trung cổ và đâu là những tín ngưỡng của Ai Cập cổ đại. Chưa bao giờ tôi nghe thấy một mớ hổ lốn của ngu dốt và cả tin như vậy.”

Tôi trấn tĩnh vị chuyên gia đang bị kích động, và đi tìm Poirot trong lều. Người bạn bé nhỏ của tôi đang tươi cười vui vẻ.

“Giờ thì chúng ta có thể yên tâm đi ngủ rồi,” ông vui sướng tuyên bố,”Tất cả tôi có thể làm với giấc ngủ. Đầu tôi, nó đau dữ dội quá. À, nhờ vào một chút trà ngon!”

Cứ như thể đáp lại lời cầu nguyện, vạt che lều được lật lên và Hassan xuất hiện, mang theo một cốc nước bốc hơi mời Poirot. Nó chính là trà hoa cúc, một thứ nước uống mà ông ấy rất ưa thích. Sau khi đã cảm ơn Hassan và từ chối lời mời dành cho tôi, chúng tôi được bỏ mặc trong lều. Tôi đứng trước cửa lều sau khi đã thay đồ, nhìn ra phía ngoài sa mạc.

“Một nơi tuyệt vời,” tôi nói lớn, “và một công việc tuyệt vời. tôi có thể cảm nhận được sự mê hoặc. Đời sống hoang mạc này, nó đang thổn thức nhịp đập của một nền văn minh đã biến mất. Chắc chắn, Poirot, ông, cũng thế, chắc ông cảm nhận được sự lôi cuốn ấy?”

Tôi không có câu trả lời, và khi tôi quay lại, bực mình một chút xíu. Chút khó chịu ấy của tôi được nhanh chóng thay đổi bằng sự lo lắng. Poirot đang nằm ngả lưng phía bên kia chiếc giường thô sơ, khuôn mặt ông ấy co giật kinh khiếp. Bên cạnh ông ấy là chiếc cốc đã cạn. Tôi vụt chạy tới bên ông, rồi lao ra ngoài và đi qua trại tới lều của bác sĩ Ames.

“Bác sĩ Ames!” Tôi thốt lên. “Hãy đến ngay lập tức.”

“Có chuyện gì thế?” bác sĩ Ames nói, xuất hiện trong bộ đồ ngủ.

“Bạn tôi. Ông ấy ngã bệnh. Đang chết dần. Trà hoa cúc. Đừng để Hassan rời trại.”

Như một tia chớp người bác sĩ chạy đến lêu của chúng tôi. Poirot đang nằm như khi tôi bỏ chạy.

“Lạ thường thật,” Ames thốt lên. “Nhìn như một cơn động kinh — hay là — ông nói ông ấy đã uống gì?” Anh ta nhặt chiếc cốc trống lên.

“Chỉ có điều là tôi đã không uống nó!” một giọng nói điềm tĩnh bật ra.

Chúng tôi quay lại trong kinh ngạc. Poirot đang ngồi dậy trên giường. Ông đang mỉm cười.

“Không,” ông nhẹ nhàng nói. “Tôi đã không uống nó. Khi bạn tốt Hastings của tôi đang ca ngợi màn đêm, tôi đã tận dụng cơ hội đổ nó đi, không xuống cổ họng tôi, nhưng xuống một chiếc chai nhỏ. Chiếc chai nhỏ đó sẽ tới nhà hóa học phân tích. Không”– khi người bác sĩ đột nhiên cất bước –“nếu là một người đàn ông biết phải trái, anh sẽ hiểu được bạo lực sẽ chẳng có tác dụng gì. Trong suốt thời gian ngắn ngủi mà Hastings đi tìm anh, tôi đã có đủ thời gian để giấu cái chai đó vào nơi an toàn. A, nhanh lên, Hastings, giữ anh ta lại!”

Tôi hiểu lầm nỗi lo lắng của Poirot. Nóng lòng muốn cứu bạn mình, tôi ném mình trước mặt người bác sĩ. Nhưng sự di chuyển nhanh chóng của anh ta đã mang một ý nghĩa khác. Anh ta lấy bàn tay che miệng, một mùi hạnh nhân đắng tràn ngập, và anh ta loạng choạng rồi ngã nhào.

“Một nạn nhân khác,”Poirot buồn rầu nói, “nhưng là cuối. Có lẽ đó là cách tốt nhất. Anh ta biết ba cái chết trong đầu mình”.

“Bác sĩ Ames?” Tôi thốt lên, sững sờ.”Nhưng tôi nghĩ ông tin vào một sức mạnh huyền bí nào đó chứ?”

“Anh hiểu lầm tôi rồi, Hastings. Ý tôi muốn nói rằng tôi tin vào sức mạnh kinh khủng của mê tín. Một khi nó đã được kiến lập rằng hàng loạt cái chết là do sức mạnh siêu nhiên, và anh có thể đâm chết một người giữa ban ngày, mà nó vẫn được qui kết là vì lời nguyền, xu hướng mê tín đã ăn sâu bám rễ vào con người như vậy đấy. Tôi nghi ngờ từ đầu rằng một người đã lợi dụng xu hướng này. Ý nghĩ này đến với anh ta, tôi cho rằng, cùng cái chết của ngài John Willard. Một sự cuồng mê trỗi dậy ngay lập tức. Như tôi có thể nhận định, không ai nhận được lợi ích gì từ ngài John. Ông Bleibner lại là một trường hợp khác. Ông ta giàu có. Thông tin tôi nhận được từ New York có chứa đựng một vài điểm manh mối. Bắt đầu, cậu Bleibner được cho là đã nói cậu ta có một người bạn tốt ở Ai Cập mà cậu có thể mượn tiền. Hiểu ngầm đó là ông chú của cậu ấy, nhưng dường như với tôi trong trường hợp đó cậu ấy lẽ ra đã nói công khai. Những câu chữ gợi ý một người bạn ân huệ của cậu ấy. Một điều nữa, cậu ấy đã xoay xở đủ tiền để tự mình đến Ai Cập, ông chú của cậu ấy từ chối thẳng thừng không gửi tiền cho cháu mình, nhưng cậu ấy có thể trả vé về New York. Ai đó đã cho cậu ấy mượn tiền.”

“Tất cả những lí lẽ đó quá mỏng manh.” tôi phản đối.

“Nhưng còn nữa. Hastings, thường thì có đủ những từ nói một cách ẩn dụ những lại được hiểu theo nghĩa đen. Điều ngược lại cũng có thể xảy ra. Trong trường hợp này, từ hiểu theo nghĩa đen lại được hiểu theo nghĩa bóng. Cậu Bleibner đã viết rõ ràng: “Tôi là một người bị bệnh hủi.”, nhưng chẳng ai nhận ra rằng cậu ấy tự bắn vào mình bởi vì cậu ấy tin rằng cậu ấy đã mắc phải căn bệnh hủi kinh khiếp.”

“Sao kia?” tôi thốt lên.

“Đó là sáng kiến thông minh từ một đấu óc ma quỉ. Cậu Bleibner đang phải chịu đựng một căn bệnh sơ sơ ngoài da, cậu ấy đã sống ở quần đảo phía Nam, nơi căn bệnh này là phổ biến. Ames là một người bạn cũ của cậu ấy, và là một bác sĩ có tiếng, anh ta sẽ không bao giờ mơ tới việc nghi ngờ lời lẽ của cậu ấy. Khi tôi đến đây, những nghi ngờ của tôi được chia cho Harper và bác sĩ Ames, nhưng tôi sớm nhận ra rằng chỉ có tay bác sĩ mới có thể thực hiện và che đậy tội ác, và tôi biết được từ Harper rằng trước đây Ames là bạn của cậu Bleibner. Chắc chắn không còn hoài nghi gì nữa cậu ta vào thời điểm này hay thời điểm khác đã lập di chúc hay bảo hiểm tài sản của mình cho tay bác sĩ. Người này đã nhận thấy cơ hội chiếm đoạt tài sản. Với anh ta thật dễ để tiêm mầm bệnh vào người ông Bleibner. Sau đó người cháu trai, mất tự chủ trước thông tin đáng sợ mà bạn anh ta truyền đạt cho mình, đã tự vẫn. Ông Bleibner, dù có những ý định là gì đi nữa, đã không lập di chúc. Tài sản của ông ấy sẽ được trao lại cho người cháu và từ cậu ấy tới tay bác sĩ.”

”Thế còn ông Schneider?”

“Chúng ta không thể khẳng định. Ông ta cũng biết cậu Bleibner, xin nhớ, và có lẽ đã nghi ngờ điều gì, hay, lại nữa, tay bác sĩ có thể đã toan tính một cái chết nữa không động cơ và không mục đích sẽ củng cố những uẩn khúc của mê tín. Hơn thế, tôi sẽ nói anh về một lập luận mang tính tâm lý thú vị, Hastings. Một kẻ giết người luôn luôn có một khát khao mạnh mẽ lập lại tội ác thành công của hắn, thôi thúc thực hành nó lớn lên trong hắn ta. Vì vậy tôi lo cho cậu Willard. Hình tượng Anubis anh trông thấy tối nay là Hassan, cải trang theo mệnh lệnh của tôi. Tôi muốn biết liệu tôi có thể làm tay bác sĩ khiếp sợ. Nhưng cần có thế lực mạnh hơn siêu nhiên để dọa hắn. Tôi có thể thấy hắn ta không hẳn tin những niềm tin giả vờ của tôi vào thế lực huyền bí. Vở tấu hài nhỏ mà tôi đóng cho hắn xem không lừa phỉnh được hắn. Tôi nghi rằng hắn ta sẽ tìm cách để biến tôi thành nạn nhân tiếp theo. Chà, nhưng dù cho cái nóng phát điên lên được, và những khó chịu từ cát, những tế bào xám nhỏ vẫn chạy đúng chức năng!”

Poirot đã chứng minh hoàn toàn đúng dựa theo những phán đoán của ông ấy. Cậu Bleibner, cách đây vài năm, trong một lúc vui vẻ say sưa, đã lập một di chúc, để lại “hộp xì gà mà anh rất ngưỡng mộ cùng tất cả mọi thứ khác khi tôi chết còn sở hữu sẽ được nhường lại cho bạn thân của tôi Robert Ames người đã từng cứu mạng tôi khỏi chết đuối.”

Vụ án được lan truyền đi xa hết khả năng, và, đến tận ngày hôm nay, người ta nói về một loạt những cái chết đáng kinh ngạc có liên quan đến ngôi mộ của Men-her-Ra như là một minh chứng lẫy lừng cho việc báo thù của một vị vua đã qua đời từ lâu tới những kẻ lục soát hầm mộ của ông ấy — một niềm tin mà, như Poirot chỉ ra cho tôi, ngược lại với tất cả tín ngưỡng và tư tưởng của toàn xứ Ai Cập.

(Visited 10 times, 1 visits today)

Leave A Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*

code